logo2

banner

Nguồn và ảnh: Sohu, Kknews, Women's Health

Ngoài các yếu tố khách quan như di truyền, thói quen sinh hoạt trong đó có việc tắm rửa cũng ảnh hưởng đến tuổi thọ của con người. Nếu bạn cũng có 5 thói quen xấu khi tắm này, hãy thay đổi càng sớm càng tốt.

Tắm là việc chúng ta thường làm trong cuộc sống hàng ngày, vì nó giúp mình duy trì sự tươi trẻ trên bề mặt da. Vì vậy, trên thực tế, có rất nhiều lưu ý khi đi tắm mà chúng ta cần hiểu rõ nhưng nhìn chung chúng ta không biết khi đi tắm cũng có những lưu ý. Dưới đây là 5 thói quen tắm rửa không tốt, nếu duy trì lâu dài thì nó sẽ âm thầm rút ngắn tuổi thọ của bạn.

1. Chà xát mạnh

Nhiều người bị ám ảnh cưỡng chế đến mức luôn cảm thấy trên người mình có nhiều chất bẩn, cứ chà xát cho đến khi trầy xước da. Mặc dù chăm chỉ tắm rửa có thể giúp bạn làm sạch bụi bẩn trên da tốt hơn, nhưng bạn cũng không nên quên rằng làn da cũng như lớp sừng và màng lipid, chúng cùng nhau cung cấp hàng rào bảo vệ cho da. Khi bạn chà xát quá nhiều, quá mạnh thì cũng có nghĩa là bạn đang thực sự phá hủy hàng rào bảo vệ này, vì vậy hãy lưu ý không chà xát da quá mạnh.

2. Rửa sạch mặt bằng vòi sen

Đây có phải là điều bạn thường làm không?

Trên thực tế, nhiều người khi tắm vòi sen thường có thói quen rửa mặt bằng vòi luôn cho tiện nhưng ít ai biết việc làm này khá sai lầm. Trước tiên, nước xả trực tiếp lên mặt đôi khi sẽ tạo ra cảm giác khó chịu.

Bên cạnh đó, vì nước chảy từ trên xuống dưới sẽ cuốn theo các chất bẩn trôi xuống bên dưới cơ thể, nếu không được vệ sinh sạch sẽ thì chẳng khác nào bạn đang chuyển chất bẩn từ mặt xuống phía dưới. Đặc biệt, nếu bạn sử dụng sữa rửa mặt thì rất có thể một lượng nhỏ sữa rửa mặt có thể bám lại trên người bạn sau khi rửa mặt bằng vòi sen.

Do đó, tốt nhất bạn nên hạn chế rửa mặ bằng vòi sen thường xuyên.

3. Dùng nhiều sữa tắm

Sữa tắm có tác dụng làm mịn và thơm cơ thể chúng ta. Tuy nhiên, một số người, đặc biệt là đối với các bạn nữ, họ đôi khi sẽ sử dụng quá nhiều sữa tắm.

5 thói quen xấu khi đi tắm của nhiều người đang âm thầm rút ngắn tuổi thọ của họ - Ảnh 2.

Sữa tắm nói chung có chứa lauramide propyl betaine, chất này có thể kích thích một số hóa chất thẩm thấu vào da nhanh chóng. Vì vậy mà da dễ bị tổn thương. Do đó, hãy chú ý dùng đúng và đủ lượng sữa tắm cần thiết khi tắm.

4. Ăn một bữa no trước khi tắm

Do nhịp sống gấp gáp, nhiều người muốn tiết kiệm thời gian nên sau bữa ăn no nê cũng nhanh nhanh chóng chóng mang đồ đi tắm.

Trên thực tế, phương pháp tắm ngay lập tức này không được khuyến khích. Vì sau khi ăn cơm xong, toàn bộ năng lượng trong cơ thể sẽ dồn về dạ dày để tiêu hóa nên nếu bạn đi tắm lúc này sẽ ảnh hưởng đến quá trình tiêu hóa trong cơ thể. Vì vậy, không nên tắm sau khi ăn no.

5. Đi tắm ngay sau khi ngủ dậy hoặc khi bụng đói

Dù vào mùa xuân, hạ, thu hay đông, luôn có một số người thích tắm sau khi ngủ dậy, trên thực tế, sau khi ngủ dậy rất dễ bị ngất xỉu hoặc suy nhược cơ thể. Hoặc tắm khi bụng đói cũng tương tự như vậy.

Vì vậy, dù đối với nhiều người đi tắm vào buổi sớm giúp giải tỏa cơn đau nhức người sau giấc ngủ dài thì điều đó cũng không thực sự đúng, bạn cũng đừng nên làm như vậy để tránh ngất và sốc.

 

Cơ thể cần năng lượng để thực hiện nhiều hoạt động khác nhau như năng lượng cho chuyển hóa cơ bản (để duy trì các hoạt động sống của cơ thể như tuần hoàn, hô hấp, bài tiết, duy trì thân nhiệt), năng lượng cho hoạt động thể lực. Thực phẩm là nguồn cung cấp năng lượng chính cho cơ thể, trong đó chất đạm, chất béo và chất đường bột trong thực phẩm là những chất sinh năng lượng.

Cung cấp năng lượng không đủ trong một thời gian dài sẽ dẫn đến hiện tượng suy dinh dưỡng. Trong khi đó, cung cấp năng lượng vượt quá nhu cầu kéo dài sẽ dẫn đến tích lũy năng lượng thừa dưới dạng mỡ, dẫn đến tình trạng thừa cân và béo phì cùng những hậu quả về bệnh tim mạch, tăng huyết áp, đái tháo đường…

Đối với trẻ em tiểu học, nhu cầu năng lượng khuyến nghị được tính dựa theo Bảng nhu cầu năng lượng khuyến nghị cho người Việt Nam năm 2016:

Nguồn: bữa ăn dinh dưỡng (http://buaanhocduong.com.vn/)

 

Suckhoedoisong.vn - Mẹ đang tìm kiếm một sản phẩm giúp con yêu ăn ngon miệng, phát triển toàn diện mà không gây tăng cân ảo nhưng chưa biết dựa vào các tiêu chí nào để lựa chọn?

Biếng ăn - vòng luẩn quẩn của bệnh tật

Biếng ăn là nỗi lo muôn thuở của các ông bố bà mẹ. Con càng gầy, mẹ càng sốt ruột, hết “dụ dỗ” bằng cách ăn rong, sử dụng smartphone, tivi đến quát nạt, la mắng nhưng đều phản tác dụng.

Thực tế, theo PGS Lê Thị Bạch Mai - Nguyên Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia, biếng ăn là tình trạng rất phổ biến khiến các bậc phụ huynh đưa trẻ đến khám tại các Trung tâm Dinh dưỡng. Khi trẻ biếng ăn nghĩa là con ăn không ngon miệng, như vậy sẽ không tiếp nhận đủ lượng thức ăn cần thiết dẫn đến thiếu hụt chất dinh dưỡng, không đáp ứng đủ nhu cầu tăng trưởng và phát triển.

“Tình trạng này kéo dài không chỉ ảnh hưởng đến cân nặng, chiều cao, não bộ mà còn tác động đến sức khỏe hệ miễn dịch. Trẻ biếng ăn lại càng ốm - mà càng ốm càng biếng ăn, vô tình tạo thành một vòng luẩn quẩn rất khó tháo gỡ” - PGS Mai cho biết.

Biếng ăn tạo ra vòng luẩn quẩn bệnh tật ở trẻ (Ảnh minh họa)

Để cải thiện tình trạng biếng ăn, theo PGS.TS.BS Nguyễn Thị Việt Hà - Trưởng khoa tiêu hóa, Bệnh viện Nhi Trung ương, trước hết các bác sĩ sẽ cùng bố mẹ nên tìm hiểu kỹ nguyên nhân. Nếu biếng ăn do bệnh lý thì trước tiên phải giải quyết các vấn đề này, song song đó là kết hợp cùng chuyên gia dinh dưỡng để xây dựng khẩu phần dinh dưỡng hợp lý, vừa dễ tiêu hóa, dễ hấp thu lại đảm bảo cung cấp đủ năng lượng để trẻ phục hồi.

Trong trường hợp biếng ăn do sai lầm trong cách nuôi dưỡng, thói quen ăn uống, bác sĩ sẽ căn cứ vào khẩu phần dinh dưỡng bố mẹ cung cấp cho con để tư vấn điều chỉnh tỷ lệ chất đạm, đường, béo, vitamin và khoáng chất phù hợp với mỗi độ tuổi khác nhau.

Đồng thời, đưa ra những lời khuyên giúp bố mẹ thay đổi thói quen một cách linh hoạt, khoa học; chấp nhận - hài lòng với sự tăng cân cũng như thực phẩm mà con mình lựa chọn, không nên quá kỳ vọng, chỉ chăm chăm chú ý vào cân nặng của con mình mà quên đi các yếu tố quan trọng khác.

“Nôn nóng” tìm giải pháp trị biếng ăn cho con: Dục tốc bất đạt

Khi trẻ đã biếng ăn lâu ngày, ngoài việc có các phương pháp phù hợp như đưa trẻ đi khám để sửa đổi thói quen ăn uống của trẻ thì bổ sung thêm sản phẩm giúp hỗ trợ tiêu hóa, cải thiện vị giác cũng như tăng cường miễn dịch cho trẻ là điều cần thiết, giúp quá trình điều trị biếng ăn được thuận lợi.

Song các bậc phụ huynh không nên nôn nóng mà lựa chọn các sản phẩm chứa hoạt chất cyproheptadin, corticoid, vì có thể gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của trẻ.

Trong đó, cyproheptadin là loại thuốc được cho trẻ sử dụng nhiều nhất. Thực chất, đây là thuốc kháng histamin chống dị ứng, có thêm tác dụng kích thích cảm giác đói, sự thèm ăn, nhưng điều này chỉ là tạm thời, khi ngưng thuốc trẻ sẽ chán ăn và sụt cân trở lại. Khi sử dụng các thuốc có chứa cyproheptadine kéo dài, trẻ dễ có biểu hiện như buồn ngủ, ngủ gà gật, lơ mơ, khô miệng, táo bón, ức chế thần kinh trung ương, ảnh hưởng đến sự phát triển trí não.

Các sản phẩm hỗ trợ đẩy lùi chứng biếng ăn chứa hoạt chất cyproheptadin, corticoid… khiến trẻ thèm ăn, có hiện tượng tăng cân “cấp tốc” nhưng thực tế đây là những tác dụng phụ của thuốc, về lâu dài có thể gây nguy hại cho sức khỏe. (Ảnh minh họa)

Ngoài ra, một số chế phẩm trị biếng ăn, thuốc đông y không rõ nguồn gốc cũng chứa nhóm chất corticoid. Khi cho trẻ dùng thuốc này kéo dài sẽ có cảm giác béo ra, tăng cân với khuôn mặt tròn như mặt trăng. Điều này đánh trúng tâm lý muốn tăng cân nhanh của các mẹ, nhưng đây chỉ là sự tăng cân giả tạo. Không chỉ vậy, corticoid còn gây nhiều tác dụng phụ như loét dạ dày, xuất huyết tiêu hóa, ảnh hưởng chức năng thượng thận, còi xương, loãng xương...

Chính vì vậy điều đầu tiên khi lựa chọn các sản phẩm bổ sung dưỡng chất, giúp con ăn ngon miệng, cha mẹ cần hết sức tỉnh táo, xem xét kỹ thành phần. Đồng thời, nên tìm hiểu nhu cầu mỗi giai đoạn của trẻ, chế độ ăn của bé đáp ứng được bao nhiêu so với nhu cầu và nên lựa chọn sản phẩm có thương hiệu, uy tín, khoa học.

Cha mẹ cần lựa chọn gì để giúp con phát triển toàn diện?

Giúp trẻ phát triển toàn diện nghĩa là phải làm sao để trẻ luôn ăn ngon, tiêu hóa khỏe, sức đề kháng tốt và ngày càng cao lớn, thông minh hơn. Những dưỡng chất nhất thiết có trong sản phẩm để đảm bảo được các yếu tố sau:

Dưỡng chất kích thích ăn ngon: Để làm tốt nhất nhiệm vụ này cần phải có L-Lysine, các vitamin nhóm B (B1, B2, B6, B12), kẽm có tác dụng hỗ trợ tăng cường sự chuyển hóa tạo năng lượng cho cơ thể, kích thích sự thèm ăn của trẻ và gia tăng chuyển hóa tối đa chất dinh dưỡng.

Dưỡng chất kích thích tăng cường sự chuyển hóa tạo năng lượng : Đây là chức năng rất cần thiết trong quá trình giúp bé ăn ngon bởi nếu tiêu hóa không tốt, trẻ sẽ đầy bụng, khó tiêu, biếng ăn. Tuy nhiên, hiện phần lớn các sản phẩm đại trà trên thị trường lại mới chỉ tập trung “bổ sung một số vi chất cần thiết” mà không biết rằng để góp phần kích thích trẻ ăn ngon thực sự thì điều cần đặc biệt coi trọng là phải “tăng cường chức năng tiêu hóa”.

Vì vậy, khi lựa chọn sản phẩm mẹ cần nhớ các thành phần như vitamin nhóm B (B1, B3, B7, B12), vitamin A (mặc dù không trực tiếp tham gia vào quá trình tiêu hóa, nhưng một số bệnh về đường tiêu hóa có thể khiến trẻ dễ bị thiếu vitamin A), và magie vừa phát triển thể lực, hoạt động cơ bắp dẻo dai, đồng thời điều hòa nhu động ruột hỗ trợ giảm tình trạng táo bón ở trẻ.

Bổ sung đầy đủ các dưỡng chất để mỗi bữa ăn không còn là “cuộc chiến” (Ảnh minh họa)

Dưỡng chất giúp “gia cố” hệ miễn dịch: Ngoài kích thích trẻ ăn ngon, tăng cường tiêu hóa và hấp thu dưỡng chất, sản phẩm hỗ trợ trị biếng ăn còn cần có các vi chất dinh dưỡng giúp nâng cao sức đề kháng cho trẻ như vitamin C, vitamin E, vitamin D3. Các thành phần này sẽ hỗ trợ cơ thể trẻ chống lại các tác nhận gây bệnh, nhanh chóng phục hồi, đẩy lùi bệnh tật, từ đó mới ăn ngon miệng hơn, phát triển tốt.

Dưỡng chất kích thích tăng trưởng tự nhiên, phát triển trí não ở trẻ: Để làm được điều này, sản phẩm không thể thiếu Axit folic - đây là vi chất hỗ trợ tạo ra các tế bào hồng cầu mới, kết hợp với sắt vừa ngăn ngừa thiếu máu vừa kích thích phát triển đầy đủ hệ thần kinh, từ đó giúp giảm nguy cơ trẻ chậm phát triển ngôn ngữ.

Song song đó, các dưỡng chất Mangan còn bổ trợ thêm các tác dụng hỗ trợ cải thiện mật độ xương, đẩy nhanh quá trình hấp thụ thức ăn, I-ốt cần thiết cho quá trình tổng hợp hoormon tuyến giáp hỗ trợ phòng ngừa bướu cổ, trẻ thông minh, sáng dạ hơn.

Việc kết hợp các vi chất dinh dưỡng cần thiết mặc dù có tác dụng chậm hơn việc tăng cân “siêu tốc” nhưng có hiệu quả bền vững, an toàn, giúp con yêu của mình phát triển một cách toàn diện. Trẻ không chỉ ăn ngon hơn và hấp thu tốt hơn mà còn phát triển cân đối chiều cao - thể chất - trí tuệ, không rơi vào tình trạng béo phì (với nguy cơ mắc các bệnh chuyển hóa như tiểu đường, mỡ máu khi còn trẻ), không gây tăng cân ảo hay dậy thì sớm.

Suckhoedoisong.vn - Dinh dưỡng không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe nói chung của người phụ nữ mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe sinh sản. Sự cân bằng của nội tiết tố có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố từ thực phẩm.

Đối với phụ nữ dinh dưỡng có thể giúp tăng chất lượng của trứng, kích thích trứng rụng, tăng khả năng trứng làm tổ, duy trì nồng độ hormone sinh dục nữ, tránh nguy cơ sảy thai.

Một chế độ ăn cân bằng sẽ giúp cho phụ nữ có cân nặng lý tưởng có chỉ số BMI từ 19 - 24 thì khả năng sinh sản tốt hơn vì hormon estrogen được sản sinh ra từ buồng trứng và tế bào mỡ. Hormon này ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình rụng trứng. Nếu phụ nữ quá gầy việc sản sinh ra estrogen bị thiếu hụt, còn phụ nữ quá béo lại sản sinh quá nhiều hormon này. Sự thiếu hụt hoặc quá thừa hormon đều ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản. Ngoài ra, nhiều chất dinh dưỡng khác cũng ảnh hưởng đến cân bằng nội tiết và cải thiện chất lượng của trứng. Vậy những chất dinh dưỡng nào có ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản của phụ nữ?

sức khỏe sinh sản nữChế độ ăn uống cân bằng sẽ giúp cho phụ nữ có cân nặng lý tưởng và khả năng sinh sản tốt hơn.

Kẽm

Ở nữ giới kẽm có tác dụng thúc đẩy sự rụng trứng và khả năng thụ thai, hỗ trợ sản xuất hormon sinh dục. Kẽm có nhiều trong các loại thực phẩm: Hàu, sò, thịt bò, cừu, gà, lợn nạc, sữa, trứng, cá, tôm, cua… trong đó nhiều nhất là hàu.

Acid béo omega 3

Đóng vai trò quan trọng giúp kích thích các hormon trong cơ thể. Các acid béo omega-3 giúp loại bỏ u xơ tử cung cũng như ngăn ngừa ung thư tử cung. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng chất béo omega 3 thúc đẩy rụng trứng. DHA từ cá béo có thể làm tăng progesterone – một trong những hormon quan trọng nhất mà phụ nữ cần để duy trì sức khỏe thai nhi sau khi thụ thai. Acid béo omega-3 giúp lưu thông máu tốt hơn. Các acid béo thiết yếu như palmitoleic, linoleic, oleic và palmitic giúp giảm tình trạng khô âm đạo. Hơn thế nữa, acid béo từ thực vật còn làm giảm tình trạng bị chuột rút và đau bụng khi đến chu kỳ kinh nguyệt.

Để tăng khả năng thụ thai, bạn nên đảm bảo cung cấp khoảng 1.000 - 2.000 mg acid béo omega 3 trong chế độ dinh dưỡng của mình. Không những vậy, khi bổ sung đủ lượng omega 3 cần thiết trước khi mang thai sẽ giúp bé phát triển vượt trội cả trong và sau thai kỳ.

Acid béo omega-3 bao gồm 3 dạng: DHA (axit docosahexaenoic), ALA (axit alpha-linolenic) và EPA (axit eicosapentaenoic). Chúng có trong các loại thực phẩm sau: Cá nước lạnh (cá hồi tự nhiên, cá mòi, cá trích…); các loại dầu thực vật (dầu đậu nành, dầu hạt cải, hướng dương, dầu oliu…, quả óc chó, hạnh nhân, lạc vừng...; các sản phẩm từ đậu nành (đậu phụ, sữa đậu nành)…

Protein

Chế độ ăn đủ protein sẽ giúp nâng cao chất lượng trứng. Lòng trắng trứng, thịt gia cầm, cá và các loại đậu là những nguồn protein chất lượng cao bạn nên bổ sung vào thực đơn hằng ngày của gia đình.

Acid folic

Trong danh sách “ăn gì để dễ thụ thai” không thể thiếu các loại thực phẩm có chứa acid folic. Trong thời gian trước khi có ý định mang thai người vợ cần phải tiêu thụ 400 microgam acid folic mỗi ngày. Bổ sung đều đặn vi chất này trước 3 tháng thụ thai sẽ đảm bảo sự phát triển khỏe mạnh của hệ thần kinh cho bé, tránh dị tật nứt đốt sống và thai vô sọ.

Nguồn thực phẩm giàu axit folic: Trái cây họ cam quýt, ngũ cốc nguyên hạt và rau lá xanh như cải bó xôi, súp - lơ xanh, rau diếp, xà lách…

Vitamin B6

Giúp ngăn ngừa các triệu chứng thai nghén, trước khi thụ thai người phụ nữ cần hấp thụ khoảng 10mg vitamin B6 mỗi ngày.

Vitamin B6 có nhiều trong các loại thực phẩm như hạt hạnh nhân, hạt hướng dương và trong các loại trái cây quen thuộc miền nhiệt đới như cam và dâu tây, chuối…

Vai trò của dinh dưỡng Bổ sung rau, củ quả trong chế độ ăn còn giúp chống lão hóa.

Vitamin E

Là một trong những vitamin quan trọng nhất cho hoạt động của cơ thể, vitamin E cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình sinh sản. Một chế độ ăn nghèo vitamin E có thể dẫn đến vô sinh, hơn nữa đây còn là thành phần chủ chốt giúp cải thiện chức năng và sức khỏe của tế bào. Vitamin E cũng là hợp chất thiết yếu được tìm thấy trong trứng. Ngoài việc bảo vệ màng tế bào chống lại tác hại của các gốc tự do, vitamin E cũng hoạt động như một chất chống oxy hóa hiệu quả giúp cải thiện chức năng miễn dịch.  Ngoài ra, vitamin E còn góp phần cải thiện khả năng tình dục, giúp noãn (trứng) phát triển tốt hơn.

Một chế độ ăn cân bằng sẽ giúp cho phụ nữ có cân nặng lý tưởng có chỉ số BMI từ 19 - 24 thì khả năng sinh sản tốt hơn vì hormone estrogen được sản sinh ra từ buồng trứng và tế bào mỡ…

Các loại thực phẩm giàu vitamin E: Mầm các loại hạt ngũ cốc, giá sống, một số loại rau, trong các hạt nhiều dầu như dầu mè, đậu phộng, đậu nành, hạt hướng dương, quả bơ…

Vitamin C

Một trong những vitamin phổ biến nhất có liên quan đến khả năng sinh sản là vitamin C. Vai trò của vitamin C giúp tăng cường tổng hợp hormon progesterone (một loại hormon giới tính giúp duy trì thai). Progesterone giúp điều hòa chu kỳ kinh nguyệt, củng cố thành tử cung, và giải tỏa căng thẳng lo âu. Progestone thường được chỉ định cho các trường hợp khó thụ thai hoặc khó giữ thai. Các nguồn vitamin C tự nhiên tốt cho cơ thể bao gồm các trái cây thuộc họ cam quýt, bông cải xanh, và ớt chuông xanh.

Các vitamin nhóm B

Cũng đã được chứng minh là làm tăng hàm lượng progesterone, và có tác dụng điều hòa chu kỳ kinh nguyệt. Nguồn thực phẩm giàu vitamin nhóm B là ngũ cốc, đậu đỗ, thịt, cá…

Magie

Người phụ nữ nào bị thiếu hụt magie trong cơ thể sẽ gặp khó khăn trong việc thụ thai. Bởi magie đóng vai trò quan trọng trong việc kích hoạt sản sinh các hormon sinh sản. Muốn bổ sung magie, bạn có thể lựa chọn việc ăn dứa, chuối mỗi ngày và các loại ngũ cốc nguyên hạt.

ThS.BS. Lê Thị Hải

Tin xem nhiều

Hè Vui 2019 rộn rã ngày ...

Ngày 10/6 vừa qua, chương trình Hè Vui 2019 của ...

"Em vẽ ước mơ cho em" ...

Đây là lần thứ 12 cuộc thi vẽ: "Em vẽ ước mơ cho ...

"Giải bóng đá truyền ...

Trong không khí sôi động của các hoạt động thể ...

"Uống nước nhớ nguồn" ...

Chủ điểm tháng 12 "uống nước nhớ nguồn" hướng tới ...

10 loại thực phẩm "vàng" ...

Đột quỵ là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu thế ...

10 tᴜyệt chiêᴜ dạy con ...

(theo nguồn báo Phụ nữ) “Đẻ con thì đaᴜ đớn, ...

3 Công Khai theo quy ...

3 Công Khai theo quy ...

3 món ăn vào bữa sáng ...

(VTC News) - Ăn sáng thế nào để vừa giữ dáng ...

4 loại thực phẩm có thể ...

THEO PHÁP LUẬT & BẠN ĐỌC Ai cũng mong ...

  • Prev
  • Sách hay của em
Scroll to top